Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

Tài liệu học, ôn tập, thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề năm 2014

(Kế toán 7E) - Tài liệu học, ôn tập, thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề năm 2014

Tài liệu do Bộ tài chính phát hành năm 2014

Tài liệu gồm 2 quyển:

Quyển 1: Gồm các chuyên đề

- Chuyên đề 1 : Pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp

- Chuyên đề 2 : Tài chính và quản lý tài chính nâng cao

- Chuyên đề 3 : Kế toán tài chính, kế toán quản trị nâng cao

Quyển 2: Gồm các chuyên đề

- Chuyên đề 4 : Kiểm toán và dịch vụ có đảm bảo nâng cao

- Chuyên đề 5 : Phân tích hoạt động tài chính nâng cao

- Chuyên đề 6 : Ngoại ngữ



Tải file tại đây 

Điều kiện thi chứng chỉ hành nghề:
Căn cứ điều 4 thông tư 129/2012/TT-BTC ngày 9/8/2012 có quy định:


Điều 4. Điều kiện dự thi
1. Người dự thi lấy Chứng chỉ hành nghề kế toán phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành Tài chính, Kế toán, Kiểm toán;
c) Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán từ 60 tháng trở lên tính từ tháng tốt nghiệp ghi trên quyết định tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học đến thời điểm đăng ký dự thi;
d) Nộp đầy đủ, đúng mẫu hồ sơ dự thi và lệ phí thi theo quy định;
đ) Không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật kế toán.
2. Người dự thi lấy Chứng chỉ kiểm toán viên phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật;
b) Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành Tài chính, Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác và có tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích hoạt động tài chính, Thuế từ 7% trên tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học trở lên; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác và có văn bằng, chứng chỉ hoàn thành các khoá học do Tổ chức nghề nghiệp quốc tế về kế toán, kiểm toán cấp bảo đảm các quy định tại Điều 9 Thông tư này;
c) Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán từ 60 tháng trở lên tính từ tháng tốt nghiệp ghi trên quyết định tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học đến thời điểm đăng ký dự thi; hoặc thời gian thực tế làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán từ 48 tháng trở lên tính từ tháng ghi trên quyết định tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học đến thời điểm đăng ký dự thi;
d) Nộp đầy đủ, đúng mẫu hồ sơ dự thi và lệ phí thi theo quy định.

 

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Tài liệu hướng dẫn thực hiện "Hồ sơ kiểm toán mẫu" - VACPA

(Kế toán 7E) - Tài liệu Hướng dẫn thực hiện Hồ sơ kiểm toán mẫu do Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam - Dự án "Tăng cường năng lực Hội kiểm toán viên hàng nghề Việt Nam" ban hành theo Quyết định số 1089/QĐ-VACPA ngày 01/10/2014 của Chủ tịch VACPA áp dụng chính thức từ 01/01/2011.
 Tài liệu hướng dẫn thực hiện "Hồ sơ kiểm toán mẫu"

 Mục lục:
Phần I   - Hướng dẫn chung
Phần II - Hướng dẫn chung về giấy tờ làm việc
Phần III - Hướng dẫn sơ bộ về phương pháp kiểm toán và lập Hồ sơ kiểm toán theo CTKT mẫu 
- Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán
- Giai đoạn tổng hợp, kết luận và lập báo cáo

Chi tiết tài liệu
Nguồn : Tạp chí Kế toán  - www.tapchiketoan.vn

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

Kế toán chi phí chế tạo và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp chế tạo trứng gà thương phẩm


Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục đích của quá trình chế tạo kinh doanh (SXKD) là lợi nhuận tối ưu. Vì vậy, doanh nghiệp (DN) luôn quan tâm đến hoạch toán chi phí chế tạo (CPSX) và tính giá thành sản phẩm (GTSP). CPSX và GTSP là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng. Bên cạnh đó, để có khả năng đứng vững trong cạnh tranh, các DN cần quản lí tốt CPSX, hạ GTSP. Thông tin về CPSX và GTSP do kế toán cung ứng đóng vai trò quan trọng đối với kiểm soát chi phí và trong quá trình ra quyết định quản trị kinh doanh. Trong ngành chế tạo (SX) trứng gà thương phẩm, các DN SXKD trong lĩnh vực này điều mong muốn hoàn thiện hoạch toán CPSX và tính giá thành để cung ứng thông tin chính xác kịp thời cho việc ra quyết định, lập kế hoạch chế tạo cũng như tìm các biện pháp giảm thiểu chi phí SXKD, hạ GTSP làm tăng lợi nhuận cho DN. Hiện nay, vấn đề lí luận cơ bản về kế toán CPSX và tính GTSP trứng gà thương phẩm vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, có hệ thống. Do đó, để thực hiện việc kế toán đầy đủ, kịp thời kế toán CPSX và tính giá thành theo các quy định trong ngành này, kế toán cần phải hiểu rõ về đặc điểm kế toán CPSX và tính GTSP trong các DN SX trứng gà thương phẩm.

Đặc điểm chế tạo trứng có ảnh hưởng đến kế toán CPSX và tính GTSP trứng thương phẩm.

Thứ nhất: Trứng gà thương phẩm được chế tạo tại các trang trại chăn nuôi (gà mẹ đẻ trứng tại trại), sau đó trứng được công nhân thu nhặt chuyển về kho DN, tiếp tục được phân loại và đưa vào tiêu thụ.

Thứ hai: Sản phẩm trứng gà thương phẩm được sử dụng nhiều cho quá trình SX. Trứng gà thương phẩm có khả năng được sử dụng làm chi phí đầu vào để SX gà giống: Trứng gà từ các trang trại chăn nuôi sẽ chuyển lên phòng lạnh(theo tiêu chuẩn) để bảo quản, được lựa chọn đủ tiêu chuẩn ấp sẽ được chuyển đến nhà máy ấp để SX gà con một ngày tuổi. ngoài ra, còn để chế biến các món ăn trong các DN dịch vụ, nhà hàng…Đặc điểm này của SX trứng gà thương phẩm đòi hỏi kế toán phải vận dụng các phương pháp đánh giá sản phẩm thích hợp, xác định đúng kết quả của quá trình SXKD.

Thứ ba: Đặc điểm tổ chức SX trong các doanh nghiệp SX trứng gà thương phẩm. Tổ chức SX trong các DN SX trứng gà thương phẩm thường theo phương thức khoán gọn theo từng trang trại nuôi gà đẻ trứng. Các trang trại có khả năng là trang trại của công ty, trang trại hợp đồng.

Đối với trang trại của DN: Do DN đầu tư xây dựng nhà xưởng, văn phòng, mua sắm tài sản cố định, đầu tư gà giống (gà mẹ), thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, có kỹ sư và công nhân trực tiếp nuôi gà, SX trứng tại trang trại.

Đối với trại hợp đồng: Là thuê trại bên ngoài, chủ trang trại đầu tư đất đai, nhà xưởng, tài sản cố định, nhân công… Doanh nghiệp nghiệp cung ứng gà giống (gà mẹ), thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, kỹ sư phụ trách kỹ thuật. Doanh nghiệp căn cứ vào số lượng trứng thu nhận trong tháng để trả công cho chủ trang trại theo đơn giá hiện nay là khoảng 550đ/quả.

Thứ 4: Sản phẩm trứng được SX ra có nhiều loại, ngoài các loại trứng tốt còn có các loại trứng như trứng móp, trứng trắng, trứng vỡ…

Thứ 5: Đối với trứng thương phẩm loại tốt được sử dụng để chế biến cac món ăn, được chia thành 10 loại dựa vào trọng lượng quả trứng như : Loại 1 – từ 71,0g trở lên, loại 2 – Từ 67,7g đến dưới 71,0g, loại 3 từ 64,3 đến dưới 67,7g… Đặc điểm này đòi hỏi kế toán cần tính giá thành chính xác từng loại trứng để phục vụ cho mục đích quản trị doanh nghiệp.

Đặc điểm kế toán áp dụng trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Các DN này đang áp dụng chế độ kế toán thống nhất ban hành theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC do Bộ trưởng bộ tài chính ban hành ngày 20/3/2006, thông tư số 244/2009/TT-BTC. Bên cạnh đó, các DN có quy mô nhỏ và vừa áp dụng chế độ kế toán DNNVV ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 và Thông tư số 138/2011/TT-BTC.

Đối tượng và phương pháp kế toán CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Việc xác định đối tượng kế toán CPSX mà thực chất là xác định giới hạn tập hợp chi phí trong các DN này phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức chế tạo, nhiệm vụ SX, yêu cầu quản lí, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán… Vì vậy, đối tượng kế toán chi phí trong các DN SX trứng gà thương phẩm có khả năng là từng nơi phát sinh chi phí(từng trang trại nuôi gà đẻ trứng).

Đối tượng và phương pháp tính giá thành trong các DN SX trứng gà thương phẩm.
Đối tượng tính GTSP có khả năng là giá thành của một quả trứng hoặc 100 quả trứng.
Sản phẩm phụ của ngành này là phân, lông…

Phương pháp tính giá thành như: Phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số…
Công thức tính giá thành một quả trứng hay 100 quả trứng (Z) cụ thể như sau:
 

Thời điểm và kỳ hạn tính giá thành trong các doanh nghiệp SX trứng gà thương phẩm.
Trứng gà được chế tạo ra tháng nào thì tính GTSP của tháng đó. Vì thế, những chi phí chi ra trong tháng này nhưng tháng sau mới cho sản phẩm thì toàn bộ chi phí trong tháng này được coi là CPSX dở dang cuối kỳ, chuyển kỳ sau:

Nội dung các khoản mục CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm
Trong các DN SX trứng gà thương phẩm CPSX cũng bao gồm ba khoản mục đó là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và CPSX chung.

Nội dung chi phí trong từng khoản mục như sau:

- Khoản mục “ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
Khoản mục này gồm chi phí về thức ăn, gồm các loại thức ăn tinh, thô…(thức ăn chăn nuôi cho gà đẻ trứng-feed expense…), chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm khoảng 70%-78% tổng CPSX.

- Khoản mục “chi phí nhân công trực tiếp”
Chi phí nhân công trực tiếp gồm: Lương chính, lương phụ của công nhân trực tiếp SX và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương cùng với các khoản trích theo lương. Chi phí nhân công trực tiếp chiếm khoảng 8.5% tổng CPSX.

- Khoản mục CPSX chung bao gồm các chi phí quản lí và phục vụ SX có tính chất chung ở các trại chăn nuôi như: Chi phí khấu hao giống gà đẻ trứng, chi phí về thuốc thú y, chi phí khấu hao chuồng trại, chi phí vận chuyển, chi phí khác… Chi phí SX chung chiếm tỷ trọng khoảng 14% - 22.5% tổng CPSX.

Đặc điểm kế toán CPSX trong các DN SX trứng gà thương phẩm áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên
Tài khoản sử dụng
+ TK 154 – “Chi phí SXKD dở dang”
+ TK 621 – “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
+ TK 622 – “Chi phí nhân công trực tiếp”
+ TK 627 – “Chi phí SX chung”

Phương pháp hạch toán



Ngành chế tạo trứng gà thương phẩm là một trong những ngành chế tạo nông nghiệp có quy trình chế tạo và đối tượng chế tạo rất đa dạng… Kế toán CPSX và tính GTSP có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ với các DN ở tầm vi mô mà cả tầm quản lý vĩ mô là nhà nước. Trên thực tế nhiều giảng viên, học viên ngành kế toán doanh nghiệp và các nhân viên kế toán chỉ được biết đến nhiều về đặc điểm kế toán CPSX và GTSP trong các DN SX công nghiệp nói chung. Do vậy bài viết này muốn đề cập chi tiết về đặc điểm kế toán CPSX và tính GTSP trong doanh nghiệp chế tạo trứng gà thương phẩm.

Th.S Đỗ Đức Tài
Khoa Kế toán – Đại học Lao động Xã Hội
Trích Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 11/2013 (122)

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Các khoản trích lập dự phòng cần phải lưu ý

Các khoản trích lập dự phòng chính có tác động đáng kể đến kết quả chế tạo – kinh doanh của doanh nghiệp (DN) mà các nhà đầu tư cần nắm bắt được bản chất trong quá trình xem xét báo cái tài chính (BCTC) của doanh nghiệp đó là:

(Ảnh minh họa)


Khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, các khoản trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng các khoản bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp (đối với các DN xây lắp).

Bản chất của các khoản trích lập dự phòng :
Nói tóm lại, một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Việc trích lập dự phòng được hiểu là việc ghi nhận vào chi phí của DN các chênh lệch nhỏ hơn của giá trị tài sản của DN tại thời điểm lập BCTC và giá trị của các tài sản này tại thời điểm mua, hoặc ghi nhận một khoản dự phòng tương ứng với các khoản nợ phải trả (trên cơ sở đưa ra một ước tính đáng tin cậy), vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó. Trong đó:

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá vật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm (Thông tư 13/2006/TT-BTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng…).

Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có khả năng thực hiện của chúng (Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho).

Thuật ngữ: giá gốc hàng tồn kho được hiểu là giá trị của hàng tồn kho được ghi nhận tại thời điểm mua căn cứ trên giá hóa đơn và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình mua hàng và chế tạo để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ như: chi phí gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, lưu kho, bãi…

Thuật ngữ giá trị thuần có khả năng thực hiện được của hàng tồn kho được hiểu là giá trị còn lại của giá bán hàng tồn kho sau khi trừ đi các chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ sản phẩm tại thời điểm lập báo cáo tài chính.

Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do các loại chứng khoán đầu tư của DN bị giảm giá, giá trị các khoản đầu tư tài chính bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư bị lỗ (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có khả năng không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán (Thông tư 13/2006/TT-BTC);

Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp: là dự phòng chi phí cho những sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng DN vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng (Thông tư 13/2006/TT-BTC).

Nguyên tắc trích lập :
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”, một khoản dự phòng chỉ được phép trích lập khi thỏa mãn đủ các điều kiện sau:

DN có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra.

Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có khả năng xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ.
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.

Sự kiện đã xảy ra :
Một sự kiện đã xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ nợ hiện tại được gọi là một sự kiện ràng buộc. Một sự kiện trở thành sự kiện ràng buộc nếu DN không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây ra bởi sự kiện đó.

Điều này chỉ xảy ra:
a) khi việc thanh toán nghĩa vụ nợ này do pháp luật bắt buộc.
b) khi có nghĩa vụ nợ liên đới, khi sự kiện này (có khả năng là một hoạt động của DN) dẫn đến có ước tính đáng tin cậy để bên thứ ba chắc chắn là DN sẽ thanh toán khoản nợ phải trả đó.
Bản chất báo cáo tài chính (BCTC) của DN là nhằm phản ánh tình hình tài chính của DN tại một thời điểm và một thời kỳ xảy ra trước đó, vì vậy các khoản dự phòng không nhằm phản ánh các khoản chi phí cần thiết cho hoạt động của DN trong tương lai, mà chỉ có liên quan tới các sự kiện xảy ra độc lập trong quá khứ, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua một nghĩa vụ nợ phát sinh.

Ví dụ: DN thực hiện trích lập dự phòng cho một khoản phải trả do bị phạt vi phạm pháp luật về môi trường. Khoản bị phạt này là do các hoạt động kinh doanh đã diễn ra trước đó của DN, nhưng có ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai, chứ không phải là các khoản bị phạt do hoạt động của DN trong tương lai.

Sự giảm sút lợi ích kinh tế có khả năng xảy ra :
Điều kiện ghi nhận một khoản nợ là khoản nợ đó phải là khoản nợ hiện tại và có khả năng làm giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán khoản nợ đó.

Việc ghi nhận một khoản trích lập dự phòng (khoản nợ) phải đi kèm với điều kiện phát sinh các tác động tới lợi ích kinh tế của DN trong tương lai thông qua việc thanh toán nghĩa vụ nợ đó (trong ví dụ nêu trên chính là việc thanh toán cho khoản tiền nộp phạt).

Tuy nhiên, không nhất thiết DN phải xác định cụ thể đối tác được hưởng quyền lợi từ nghĩa vụ nợ của DN (với ví dụ trên, DN có khả năng sẽ phải chi trả khoản chi phí khắc phục các ảnh hưởng đến môi trường và người hưởng lợi là cộng đồng nói chung).

Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ phải trả :
Các khoản trích lập dự phòng về bản chất đều xây dựng trên cơ sở ước tính, đây là cơ sở quan trọng, nhưng nó không làm mất đi độ tin cậy của các số liệu trên BCTC nếu DN đưa ra được các căn cứ tin cậy cho công việc ước tính các khoản trích lập (các khoản nợ). Đây cũng là yêu cầu bắt buộc với DN khi trình bày các khoản trích lập dự phòng trên BCTC.

Trong trường hợp DN thiếu các cơ sở tin cậy để ước tính nghĩa vụ nợ cho việc trích lập dự phòng, DN sẽ ghi nhận khoản nợ ước tính này như một khoản “nợ tiềm tàng” trên BCTC (đây là thuật ngữ chỉ các khoản nợ mà DN có khả năng ước tính được, nhưng khả năng phát sinh là chưa chắc chắn, vì vậy DN phải trình bày riêng lẻ theo các tiêu chí được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18).

Phương pháp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
Đối tượng: Theo Thông tư số 13/2006/TT-BTC về việc hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cho nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư hỏng, kém, mất phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển), sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang.

Việc trích lập được thực hiện khi giá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có khả năng thực hiện được và phải đảm bảo: có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá vốn hàng tồn kho; là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của DN tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính (BCTC) (trong trường hợp nguyên vật liệu sử dụng làm nguyên liệu chính chế tạo sản phẩm, có giá trị thuần có khả năng thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm, dịch vụ được chế tạo từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì DN cũng không được trích lập dự phòng).

Phương pháp trích lập: mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập được tính bằng cách lấy khối lượng hàng tồn kho tại thời điểm lập BCTC nhân (x) với giá gốc hàng tồn kho theo sổ kế toán, sau đó trừ (-) giá trị thuần có khả năng thực hiện được của hàng tồn kho.

Ví dụ: tại ngày 31/12, DN có 100 tấn sản phẩm A tồn kho, giá gốc của sản phẩm này (bao gồm các chi phí trực tiếp và chi phí chế tạo chế biến khác để hoàn thành sản phẩm) là 100 đồng. Cũng tại thời điểm này, giá thành của sản phẩm A trên thị trường là 80 đồng/tấn.

Giả định các chi phí liên quan khác ước tính để tiêu thụ sản phẩm là 10 đồng/tấn, nghĩa là giá trị thuần có khả năng thực hiện được của một đơn vị sản phẩm A là 70 đồng/tấn (80 – 10), khi đó DN cần phải trích lập một khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là: 100 tấn x (100 đồng – 70 đồng ) = 3.000 đồng.

Lưu ý: giá trị của khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho này sẽ được DN hạch toán vào một tài khoản treo có số dư âm trên bảng cân đối kế toán và hạch toán tăng khoản mục giá vốn hàng bán trong kỳ; DN phải trình bày được cơ sở để xác định các khoản mục giá gốc hàng tồn kho, giá trị thuần có khả năng thực hiện được của hàng tồn kho trên bản thuyết minh BCTC; DN niêm yết bắt buộc phải công bố thông tin tài chính định kỳ sẽ phải thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nếu tại thời điểm lập BCTC, giá gốc của hàng tồn kho của DN thấp hơn giá trị thuần có khả năng thực hiện được.

Xử lý khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào thời điểm lập BCTC: tại mỗi thời điểm lập BCTC, DN phải xem xét số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập và số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập: nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN không phải trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho; nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì DN trích thêm vào khoản mục giá vốn hàng bán của DN phần chênh lệch; nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch vào khoản mục thu nhập khác.

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Ký tên trên hóa đơn, chứng từ kế toán


Căn cứ khoản 1 Điều 20 Chương II Mục I Luật Kế toán:

“Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải được ký bằng bút mực. Không được ký chứng từ kế toán bắng mực đỏ hoặc đóng dấu chữ ký sẵn. Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất.”

Tại điểm 4, Mục I và phần thứ ba chế độ chứng từ kế toán Doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp có quy định:

“… Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên…”

Tại điểm 8, Mục I và phần thứ tư chế độ chứng từ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 19/06/2006 của bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hàng Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy định:

“...Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải  ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên.

Căn cứ quy định trên thì hoá đơn bán hàng là chứng từ kế toán nhưng không thuộc loại chứng từ chi tiền do đó không bắt buộc phải ký theo từng liên. Do đó có khả năng ký trên liên 1 và in sang liên 2, 3 bằng giấy cacbon (giấy than), không được dùng chữ ký in sẵn trên con dấu để ký trên liên 2 hoá đơn.